N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
5
Ngành thép đang đứng trước sự cạnh tranh gay gắt khi vào AFTA, khi thuế nhập
khẩu các sản phẩm thép sẽ giảm từ 40% xuống còn 20% và đến năm 2006 chỉ còn là
0-5%. Thời điểm Việt Nam phải thực hiện các cam kết của khu vực mậu dịch tự do
ASEAN đã đến. Các doanh nghiệp thép Việt Nam phải đói mặt với sự cạnh tranh
mạnh mẽ của hàng hoá các nước khác trong khu vực vào thị trường nước ta khi thuế
suất hàng hoá nhập khẩu chỉ còn từ 0-5%, bên cạnh đó các hàng hoá phi thuế quan
cũng được dỡ bỏ hoàn toàn, điều này buộc ngành thép phải thật sự bước vào một
cuộc cạnh tranh khắc nghiệt trên thị trường khu vực và quốc tế, chính thánh thức lớn
này đặt ra yêu cầu cho ngành thép Việt Nam, mà nòng cốt là Tổng công ty thép Việt
Nam phải nâng cao sức cạnh tranh để chủ động hội nhập.
Phần 2. Thực trạng cạnh tranh của ngành thép Việt Nam trong quá trình
hội nhập khu vực và thế giới.
2.1. Thực trạng ngành thép Việt Nam.
Hiện nay, nước ta có 19 doanh nghiệp sản xuất thép có quy mô lớn với tổng
công suất thiết kế khoảng 4,1 triệu tấn/năm. Ngoài ra, ngành thép còn có khoảng 50
cơ sở tư nhân với công suất thép cán khoảng từ 200.000 đến 400.00 tấn/năm. Trong
năm 2002, Việt Nam đã sản xuất 2,4 triệu tấn thép cán, tuy nhiên ngành thép nước ta
còn gặp rất nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất hiện nay của ngành thép là phụ thuộc
quá lớn vào phôi thép nhập khẩu. Năm 2002, sản xuất phôi thép trong nước mới chỉ
đáp ứng khoảng 25% nhu cầu, còn lại 75% là nhập khẩu.
2.1.1. Phụ thuộc vào phôi thép nhập khẩu.
Theo Tổng cục Thống kê, năm nay, cả nước đã nhập khẩu trên 4 triệu tấn sắt
thép trị giá 1.055 triệu USD tăng 34% giá trị so với cùng kỳ năm trước. Trong đó,
lượng phôi thép nhập khẩu khoảng 1.81 triệu tấn, trị giá hơn 400 nghìn USD, tăng
18% so với năm 2001 và gấp 4 lần so với lượng phôi thép sản xuất trong nước (450
nghìn tấn).
N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
6
Năm 2002, sản lượng thép cán toàn ngành đạt 2,38 triệu tán, tăng 25,4%. Trong
đó, Tổng công ty thép Việt Nam đạt 782 nghìn tấn, khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài đạt 450 nghìn tấn, các thành phần khác 501 nghìn tấn. Riêng phôi thép sản
xuất trong nước đạt 450 nghìn tấn, tăng 18% so với năm 2001, trong đó Tổng công
ty Thép Việt Nam 390 nghìn tấn.
Điều bất hợp lý là sản xuất phôi thép trong nước mới chỉ đáp ứng được trên
10% tổng công suất thiết kế của toàn ngành thép (3 triệu tấn/năm). Hiện trong nước
chỉ có Tổng công ty Thép Việt Nam đầu tư các cơ sở luyện tháp quy mô công
nghiệp với công suất 450.000-500.000 tấn phôi thép/năm, đáp ứng 50-55% nhu cầu
cho các cơ sở cán thép của Tổng công ty. Nhiều doanh nghiệp chỉ muốn đầu tư vào
lĩnh vực cán thép vì dễ làm, thu hồi nhanh chứ không mấy ai đầu tư sản xuất phôi
thép.
2.1.2. Giá trần thép xây dựng được nới lỏng
Giá thép thành phẩm sản xuất trong nước chủ yếu dựa vào giá nhập phôi thép
(phôi thép chiếm 90% giá thành). Cuối năm 2002 và đầu năm 2003, giá phôi thép
nhập khẩu tăng mạnh. Trong khi đó, Bộ Tài chính đã có quyết định tăng thuế nhập
khẩu phôi thép từ 7% lên 10% từ 1/1/2003 để hổ trợ sản xuất trong nước, nên giá
thành sản xuất thép trong nước được đội lên rất cao. Mặc dù ở trong điều kiện như
vậy, nhưng cũng không có chuyện các doanh nghiệp giảm nhập khẩu, giảm sản xuất,
dẫn đến mất cân đối cung cầu thị trường. Trong 2 tháng đầu năm 2003, các doanh
nghiệp liên doanh đã đưa ra thị trường 115.000 tấn thép, tăng 19% so với cùng kỳ
năm ngoái (96.000 tấn). Các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty thép Việt Nam đưa ra
tiêu thụ 112.000 tấn, tăng 45% so với cùng kỳ năm ngoái (77.000 tấn). Tính chung
của cả hai khối lượng thép đưa ra thị trường tiêu thụ là tăng 30% so với cùng kỳ.
Trong thời gian qua, Chính phủ đã bỏ quy định giá trần đối với ngành thép, đây
là một sự can thiệp cần thiết để đảm bảo cho khả năng tồn tại của các doanh nghiệp.
N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
7
Điều này dẫn đến việc các doanh nghiệp thép đồng loạt nâng giá bán sản phẩm để bù
đắp cho chi phí đầu vào, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất.
Khi Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế các sản phẩm sắt thép gia nhập AFTA,
giá nguyên liệu nhập vào thị trường Việt Nam do lợi thế giá cả sẽ giảm nhưng sản
phẩm thép của các nước ASEAN sẽ thâm nhập vào thị trường Việt Nam do lợi thế
giá rẻ. Ngoài ra, ngành thép cũng đang phải đối mặt với nạn thép giả, đội lốt thương
hiệu của một số doanh nghiệp tư nhân; phần lớn công nghệ trong ngành thép còn quá
lạc hậu, chiếm tới 63% năng lực sản xuất.
2.1.3. Các dự án sản xuất phôi thép đang được đẩy nhanh.
Để giảm lượng thép nhập khẩu và tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm,
Tổng công ty Thép Việt Nam đưa ra các biện pháp: đầu từ trang bị lại dây chuyền
công nghệ của một số nhà máy cán thép hiện có theo hướng hiện đại; tăng năng lực
sản xuất phôi thép và cán thép để đáp ứng nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy cán
thép. Cụ thể là đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất phôi thép, nâng năng lực sản
xuất từ 390 nghìn tấn năm 2002 lên 1,5 triệu tấn vào năm 2005…
Về nguyên liệu, ngành thép sẽ đẩy mạnh sản xuất phôi trong nước nhưng do
việc thu mua sắt thép phế liệu khó khăn nên dự kiến sản xuất khoảng 500 nghìn tấn,
tăng 16,3%; nhập khoảng 2,1 triệu tấn phôi thép, tăng 13,5% so với năm 2002.
Các dự án sản xuất phôi thép được tập trung đầu tư gồm dự án nhà máy thép
Cái Lân ở Quảng Ninh, công suất 500.000 tấn phôi/năm dự kiến sẽ đi vào hoạt động
năm 2005, dự án nhà máy thép Bà Rịa–Vũng Tàu, dự kiến hoàn thành năm 2004
cùng với hai dự án đầu tư thêm dây chuyền sản xuất phôi thép của Nhà máy Gang
thép Thái Nguyên và Nhà máy Thép Miền Nam.
Ngành thép cũng sẽ tập trung khai thác các mỏ quặng, tận thu các nguồn sắt phế
liệu trong nước, khai thác các nguồn nhập khẩu thép phế liệu ổn định để sản xuất
N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
8
phôi. Một số mỏ quặng được tập trung khai thác là mỏ Quý Xa ở Lào Cai, mỏ Thạch
Khê ở Hà Tĩnh, mỏ Trại Cau, Tân Tiền ở Thái Nguyên, Phục Ninh ở Tuyên Quang,
mở Ngườm Cháng, Nà Rụa ở Cao Bằng.
Hiện nay, sản lượng phôi thép trong nước mới chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu
cho sản xuất thép cán, 70% còn lại vẫn phải nhập khẩu. Hầu hết các doanh nghiệp
sản xuất thép trong nước đều nhập khẩu phoi thép về sản xuất thép cán. Rất ít doanh
nghiệp đầu tư sản xuất phôi thép vì chi phí đầu tư quá lớn. Để có một dây chuyền
sản xuất 100.000 tấn phôi/năm, doanh nghiệp cần đầu tư 300 triệu USD. Trong khi
đó, chỉ cần có khoảng 200 tỷ đồng là doanh nghiệp đã có một nhà máy sản xuất thép
cán công suất 200.000 tấn/năm.
Việc đầu tư sản xuất phôi thép cũng sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam hạ giá
thành sản phẩm, bớt phụ thuộc vào nguồn cung cấp cũng như giá cả từ thị trường thế
giới và đặc biệt giúp các doanh nghiệp chủ động trong hội nhập khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA).
Theo Bộ Công nghiệp, năm 2003, nhu cầu thép các loại dự báo khoảng trên 5
triệu tấn, tăng 12,4% so với năm 2002. Dự kiến sản xuất trong nước khoảng 2,73
triệu tấn (chủ yếu là thép xây dựng). Nhu cầu nhập khẩu các loại thép tấm, thép lá,
thép chế tạo vào khoảng 2,3 triệu tấn.
2.2. Những vấn đề tồn tại của ngành thép.
2.2.1. Cơ cấu ngành thép ngày càng mất cân đối trầm trọng.
Mất cân đối giữa các khâu sản xuất quan trọng nhất: luyện gang và luyện thép,
luyện thép và cán thép, luyện thép lò thổi và luyện thép lò điện
- Luyện gang và luyện thép
N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
9
Hiện nay, nước ta chỉ có nhà máy liên hiệp gang thép Thái Nguyên là sản xuất
gang.
Ở đây gang sản xuất trong các lò cao có dụng tích 100 m
3
, loại lò các nước trên
thế giới đã loại bỏ từ lâu. Sản lượng ước khoảng 0,2 triệu tấn/năm được đưa vào lò
điện phối liệu vớ thép phế để nấu thép.
Do các ngành công nghiệp, nhất là ngành cơ khí, chưa phát triển mạnh nệ sự
thiếu hụt gang chưa bức bách. Song, hiện nay, sự thiếu hụt này đã bắt đầu thể hiện
ngày càng rõ. Vì vậy, nhiều địa phương như: Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang đã
và đang có các kế hoạch phát triển lò cao dung tích 20-100 m
3
để sản xuất gang đúc
sản phẩm và các linh kiện. Sản lượng khoảng vài vạn tấn mỗi cơ số.
Sẽ rất thiếu sót và có hậu quả xấu nếu không đẩy mạnh khâu sản xuất ganh cân
đối với sản xuất thép, thông thường tỷ lệ đó là 1:1- một tỷ lệ đảm bảo sản xuất thép
theo dây chuyền cộng nghệ truyền thống khép kín và đáp ứng nhu cầu gang cho sự
phát triển các ngành kinh tế quốc dân.
- Luyện thép và cán thép
Đầu những năm 90 Chính phủ nhấn mạnh việc phát triển hạ nguồn trên cơ sở
nhập phôi thép là hoàn toàn đúng đắn. Tuy thế, chính phủ cũng đã đặt rất đúng việc
cần phải phát triển mạnh thượng nguồn. Đáng tiếc là chủ trương nà đã không được
thực hiện nghiêm túc. Từ đó, tạo ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các khâu
luyện thép và cán thép.
Hiện nay, công suất các nhà máy cán thép ở nước ta đã đạt 4 triệu tấn/năm,
song công suất các nhà máy luyện thép lò điện mới chỉ đạt khoảng 0,4 triệu tấn/năm
bằng 1/10 khả năng cán. Để đáp ứng nhu cầu thép sản phẩm, nước ta hàng năm phải
nhập khẩu hàng triệu tấn phôi thép.
N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
10
Việc nhập khẩu phôi thép tốn ngoại tệ, bị động, giá cả luôn giao động, chất
lượng khó đảm bảo, giá thành sản phẩm cao, tính cạnh tranh yếu.
Sự mất cân đối ngày càng khó khắc phục và ngày càng gây hậu quả xấu cho
ngành thép.
- Luyện thép lò điện và luyện thép lò thổi
Như đã nói ở trên, tỷ lệ sản xuất thép lò điện ở các nước trên thế giới, tuỳ từng
quốc gia, giao động trong phạm vi 30-40% tổng sản lượng thép luyện ra
Ở những nước có ngành công nghiệp phát triển, có nguồn điện phong phú, có
nguồn thép phế dồi dào, tỷ lệ thép lò điện thường vượt quá tỷ lệ trên, còn lại là thép
lò thổi.
Lò điện thường sử dụng sản xuất các loại thép và hợp kim cao cấp có những
tính năng đặc biệt hiệu quả kinh tế cao.
Ở nước ta nguồn điện với giá rẻ không phong phú, không có nhiều sắt thép phế,
việc sử dụng lò điện luyện thép với tỷ lệ 100% như hiện nay và trong tương lai là rất
phi lý, không kinh tế.
Lò điện phải luyện các mác thép và hợp kim cao cấp. Muốn vậy phải có thép
phế tốt, tức loại thép phế không chứa các tạp chất có hại, đặc biệt các loại tạp chất
kim loại màu, hàm lượng < 0,10%. Giá loại thép phế này có thể tới 150 USD/tấn
(1996). các loại thép phế khác cũng phải đảm bảo hàm lượng tạp chất < 0,15% thì
mới có thể luyện thép tốt. Giá loại thép phế này vào khoảng 120-130 USD/tấn
(1996). Giá thép phế trên thế giới ngày càng tăng.
Hiện trên thế giới còn một kho thép phế đồ sộ là những thiết bị quá hạn sử dụng
được thải ra, khoảng 700 triệu tấn, nhưng do trong những thiết bị này có lẫn rất
N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
11
nhiều chi tiết kim loại màu và nhiều loại thép có thành phần khách nhau, chưa có
công nghệ xử lý nên còn chưa được sử dụng.
Các loại thép phế nước ta tự có và nhập về, đại bộ phận chưa được phân loại,
thuộc loại “tạp phí lù”, có hàm lượng tạp chất cao, loại tạp chất gì, số lượng bao
nhiêu đều không rõ. Vì vậy, chỉ có thể dùng luyện thép cacbon xây dựng thông
thường. Không thể “nhặt” các tạp chất trong lò thép ra như “nhặt các hạt sạn” trong
nồi cơm như một số phát biểu và muốn người khác cũng suy nghĩ như mình.
Muốn phát triển thép lò điện đúng chức năng, phải hình thành một công nghệ
phân loại và xử lý thép phế, không thể làm tuỳ tiện như hiện nay.
2.2.2. Chủng loại sản phẩm rất mất cân đối.
Các nhà máy luyện thép ít ỏi và các nhà máy cán thép đang “trăm hoa đua nở”
ở nước ta chủ yếu luyện và cán các mác thép thường dạng sợi tròn và vằn. Sản lượng
các loại thép này có thẻ tới 4 triệu tấn/năm trong khi lượng sử dụng chỉ khoảng 1/2
Hiện đang xây dựng một nhà cán tôn mỏng cống suất 0,3 triệu tấn/năm.
Các chủng loại thép hình, thép tấm, thép ống, … đều phải nhập khoảng vài triệu
tấn/năm
Đại bộ phận các loại thép hợp kim cũng phải nhập.
Tất nhiên không nước nào sản xuất đủ mặt hàng, đủ chủng loại thép, đều có
xuất có nhập. Nhưng tình trạng của nước ta là nhập quá siêu.
Sở dĩ có sự mất cân đối này là do phát triển hạ nguồn quá mức.
“ May” mà các ngành kinh tế quốc dân của nước ta chưa phát triển mạnh nhu
càu đa dạng về thép với khối lượng lớn, chất lượng cao chưa bức bách nên còn có
thể chóng đỡ được biện pháp nhập khẩu. Tuy nhiên, hậu quả của nhập khẩu đã quá
N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
12
rõ rệt: giá thành xây dựng và chế tạo thiết bị đều cao so với mặt bằng ở các nước có
ngành luyện thép phát triển. Nếu không kịp khắc phục, không những không hạ được
giá thành mà còn kìm hãm sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, đặc biệt ngành xây
dựng và cơ khí.
2.2.3. Chất lượng thép đang là vấn đề bức xúc.
Trừ các cơ sở sản xuất thép ở các làng nghề chưa lên tivi, chưa có những bảng
quảng cáo. Trong khi đó các nhà máy luyên cán thép quốc doanh, liên doanh đều đã
liên tục xuất hiện trên tivi, các bảng quảng cáo lớn đủ màu sắc xuất hiện trên các xa
lộ cao tốc, ngã tư, ngã năm các trục đường chính với những lời nói, dòng chữ rằng
thép các cơ sảo này sản xuất ra đạt tiêu chuẩn quốc tế, là công nghệ tiến tiến hạng
nhất của nước này, nước kia…
Trong cơ chế thị trường marketing là điều tất nhiên, không ai quản lý. Song các
hộ sử dụng thì phải đi sâu tìm hiểu ngọn ngành.
Về các nhà máy lò điện luyện thép là thép phế tạp nham, chưa được xử lý phân
loại, không nắm chắc được thành phần ban đầu, chỉ có 2 nhà máy có lò tinh luyên
ngoài lò đơn giản (lò LF), các lò này cũng chưa vận hành tốt. Có nhà máy phân tích
nhanh cho biết kịp thời sự biến đổi thành phần thép để kịp khống chế…
Trong điều kiện dó, các nhà máy này phần lớn chỉ luyện các mác thép cacbon
xây dựng thông thường và một số mác thép hợp kim thấp độ bền cao ở thang độ bền
thấp. Tất cả những mác thép này không có yêu cầu cao về cơ lý tính cũng như hàm
lượng tạp chất, do dó có thể đạt được những quy định đặt ra. Trình độ quốc tế cũng
chỉ ở mức này thôi.
Về các nhà máy cán thép. Không luyện và đúc phôi thép. Toàn bộ phôi thép đều
phải nhập khẩu. Chất lượng sản phẩm thép cán phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng
phôi nhập khẩu. Nếu nhập phải phôi thép chất lượng xấu, thành phần không đảm
N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
13
bảo, hàm lượng tạp chất cao, cấu trúc thỏi đúc xấu thì máy cán có hiện đại mấy cũng
chỉ cho sản phẩm tồi.
Việc mua phôi thép với số lượng lớn rất khó kiểm tra đảm bảo chất lượng lớn
rất khó kiểm tra đảm bảo chất lượng phôi. Đã có cơ sở quốc doanh nhập phải những
lô hàng nghìn tấn phôi thép kém chất lượng vẫn cứ cán ra sản phẩm để bán.
Những nhà máy cán thép này cũng thường chỉ nhập phôi thép xây dựng thông
thường để cán vì làm như vậy dễ dàng và có hiệu quả kinh tế. Những ngành sử dụng
thép cho các công trình quan trọng nên hết sức cảnh giác.
Về các làng nghề sản xuất thép. Ở dây thép được luyện từ thép phế trong các lò
trung tấn quy mô vài trăm Kg/mẻ đến vài tấn/mẻ.
Đặc điểm của những loại lô này là dưới tác dụng của dòng điện cảm ứng, khối
thép tự gia nhiệt đến nhiệt độ luyện thép. Có thể cho thêm các nguyên tố để điều
chỉnh thành phần, song nếu phải khử bỏ bớt các nguyên tố không cần thiết bằng
phương pháp thông thường là tạo xỉ ngay trong lò thì rất khó khăn. Vì vậy, chất
lượng thép luyện ra hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng thép phế. Nếu thép phế tốt
có thể luyện được thép tốt. Tuy nhiên, thép luyện ra từ các cơ sở này chất lượng
thường không cao, chủ yếu là do việc đúc thỏi được tiến hành trong các khuôn hở
nằm ngang. Cách đúc này làm cho phôi thép kém chất lượng, mặt khác công nghệ
cán thường không hợp lý, do đó thép sản phẩm chất lượng không cao, độ dai, dẻo
đều thấp.
Tóm lại, bức tranh toàn cục về chất lượng sản phẩm thép ở nước ta không mấy
sáng sủa. Khu vực nào cũng đều tồn tại vấn đề, đều có “gót chân Asin”. Nhiều ý
kiến phát biểu cho rằng có tới 20% thép sử dụng vào các công tình quan trọng là
thép kém chất lượng và cho đó là thép cán ở làng nghề. E rằng thép kém chất lượng
sử dụng vào các công trình quan trọng còn nhiều hơn thế và cũng e rằng không phải
chỉ là thép của các làng nghề.
N©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña ngµnh thÐp
14
Việc nhận diện thép cán từ các làng nghề không khó khăn. Vì vậy, việc để lọt
thép làng nghề vào các công trình quan trọng phải tự trách mình.
2.2.4. Chưa phát huy triệt để đặc điểm của nhà máy luyện kim liên hợp.
Trong dây chuyền các nhà máy của ngành luyện thép, nhà máy nào cũng có sản
phẩm chính, phụ; chất phế thải…Sản phẩm phụ, chất phế thải ở nhà máy này lại là
nguyên liệu chính của nhà máy kia. Nếu sử dụng được triệt để thì giá thành sản
phẩm của từng phân xưởng và giá thành cả nhà máy sẽ giảm rất nhiều.
Các nhà máy luyện thép của ta chưa làm tốt được điều này. Lò cao luyện gang
sản xuất ra gang, còn có khí lò cao và xỉ, khí lò cao qua xử lý là một loại nguyên liệu
tốt có thể cung cấp cho xưởng nồi hơi và các xưởng lò nung…Xỉ có thể chế tạo bông
xốp cách nhiệt hoặc làm gạch… Xưởng luyện than cốc từ than mở thực chất là một
nhà máy hoá học sản xuất ra than cốc, rất nhiều loại hoá chất và khí lò cốc, một loại
nhiên liệu giá trị cao. Hiện nay đều chưa được sử dụng tốt nhất. Xưởng luyện thép
và cán thép sinh ra rất nhiều “thép đầu thừa đuôi thẹo” cũng bán cho các hộ tư
doanh, họ sử dụng làm nguyên liệu chế tạo các loại linh kiện máy và công cụ sản
xuất…
Ưu điểm của nhà máy liên hợp là sử dụng tổng hợp nguyên nhiên liệu chưa
được chú ý khai thác triệt để. Nếu được kịp thời khắc phục tình trạng này thì giá
thành sản phẩm không thể thấp lãi ít, do đó lại cần ưu tiên này nọ hoặc xin được bảo
hộ…
2.2.5. Việc cải tiến công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới, sản xuất mác thép
mới còn nhiều bất cập.
Ngành sản xuất gang thép hiện nay trên thế giới có rất nhiều biến đổi theo
hướng chuẩn bị thật kỹ nguyên liệu trước khi đưa vào lò; nhiều giai đoạn công nghệ
không tiến hành trong lò luyện chính mà đưa ra thực hiện trong các thiết bị chuyên
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét