Các nguồn lực cho hoạt động đầu t bao gồm: nguồn lực về tài chính
(vốn), nguồn lực về con ngời (nhân lực), nguồn lực về máy móc thiết bị (vật
lực), nguồn tài nguyên thiên nhiên Các nguồn lực này có mối quan hệ
chặt chẽ và trong một điều kiện nhất định có thể chuyển hoá, thay thế lẫn
nhau. Trong đó thì nguồn vốn tiền tệ là quan trọng nhất, vì nó có thể dùng
để lợng hoá cho các nguồn lực còn lại. Nh vậy, có sự khác biệt nhất định
giữa khái niệm đầu t và các nguồn lực cho hoạt động đầu t. Tuy nhiên, nếu
không có các nguồn lực thì hoạt động đầu t không thể diễn ra đợc. Do đó,
trong phạm vi khoá luận của mình, khái niệm khuyến khích đầu t trong nớc
có thể đợc hiểu với khái niệm huy động nguồn lực trong nớc.
Cũng nh hoạt động đầu t, ngời ta thờng phân chia nguồn vốn cho đầu
t thành 2 nguồn chính là:
+ Nguồn vốn trong nớc,đợc huy động từ các nguồn:
- Tiết kiệm của chính phủ (tạo vốn qua Ngân sách): đây là nguồn có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu t trong nớc. Nguồn này
chủ yếu đợc tập trung cho đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội,
đầu t phát triển một số công trình công nghiệp then chốt, các công trình
công cộng hay các công trình liên quan đến an ninh quốc gia
- Tiết kiệm của doanh nghiệp và tổ chức: nguồn này đợc lấy chủ yếu
từ quỹ khấu hao của các doanh nghiệp. Nó thờng đợc đầu t vào những lĩnh
vực mang lại lợi nhuận cao, thâm nhập thị trờng quốc tế hay nâng cao khả
năng cạnh tranh của cơ sở
- Tiết kiệm của khu vực dân doanh: đây là nguồn vốn khá lớn có khả
năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu t trong tơng lai nhng cha đợc huy
động hiệu quả. ở nớc ta, nguồn vốn của khu vực này mới chỉ chú trọng vào
thu hút tiền gửi tiết kiệm mà cha chú trọng vào khuyến khích ngời dân bỏ
tiền ra đầu t.
+ Nguồn vốn nớc ngoài:
- Vốn đầu t gián tiếp nớc ngoài: là nguồn vốn của chính phủ, các tổ
chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức và cá nhân nớc ngoài
5
đ ợc thực hiện dới các hình thức khác nhau nh: viện trợ hoàn lại, viện trợ
không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất u đãi, mua cổ phiếu, trái phiếu của
các công ty của Việt nam. Một hình thức phổ biến của đầu t gián tiếp là
viện trợ phát triển chính thức của các nớc công nghiệp phát triển ODA.
Vốn đầu t gián tiếp thờng lớn, cho nên có tác dụng mạnh và nhanh đối với
việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của nớc
nhận đầu t. Tuy nhiên, tiếp nhận vốn đầu t gián tiếp thờng gắn với những
điều kiện về chính trị do đó dễ bị lệ thuộc vào nớc ngoài.
- Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI): là nguồn vốn do các nhà đầu t
cá nhân và tổ chức của nớc ngoài đầu t vào Việt nam. Vốn này thờng
không đủ lớn để giải quyết dứt điểm từng vấn đề kinh tế xã hội của nớc
chủ nhà. Tuy nhiên, nó lại tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển giao
công nghệ, giải quyết công ăn việc làm, thâm nhập thị trờng quốc tế, học
hỏi kinh nghiệm quản lý của n ớc chủ nhà.
Việt nam là một trong những nớc nghèo nhất trên thế giới, còn thiếu
thốn về mọi mặt, từ vốn tiền tệ, máy móc thiết bị đến đội ngũ nhân lực
có trình độ cao. Tuy nhiên, dân tộc ta là một dân tộc hiếu học, có tinh thần
yêu nớc mạnh mẽ, không chịu khuất phục trớc bất kỳ khó khăn nào. Nhận
thức đợc vị thế yếu kém cũng nh những khó khăn của đất nớc, Đảng và
Nhà nớc ta đã có những chính sách và biện pháp cụ thể để huy động mọi
nguồn lực cho phát triển đất nớc, để đến năm 2020, cơ bản trở thành một n-
ớc công nghiệp hoá - theo văn kiện Đại hội Đảng IX. Muốn đạt đợc điều
đó, cũng theo văn kiện Đại hội Đảng IX, thì chúng ta phải cần khoảng 830
- 850 tỷ đồng (tơng đơng 59-61 tỷ USD) trong thời gian 5 năm tới, trong đó
nguồn vốn trong nớc chiếm 2/3. Do đó, vai trò của đầu t trong nớc và chính
sách KKĐTTN càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn này.
1.2. Vai trò của đầu t trong nớc và khuyến khích đầu t trong nớc:
Nh đã trình bày ở phần trên, hoạt động đầu t có một vai trò hết sức
quan trọng. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển đối với từng cơ sở sản
xuất kinh doanh cũng nh đối với toàn bộ nền kinh tế. Trên bình diện quốc
6
gia, hoạt động đầu t có thể chia thành 2 hoạt động chính là: đầu t trong nớc
và đầu t nớc ngoài. Là một nớc đang phát triển, có nhu cầu đầu t rất lớn,
Nhà Nớc ta đã có chủ trơng tận dụng tối đa nguồn vốn đầu t nớc ngoài
đồng thời tăng cờng phát huy nội lực, dựa vào nguồn vốn đầu t trong nớc là
chính. Bởi vì, đầu t trong nớc đóng vai trò quyết định cho công cuộc phát
triển đất nớc. Điều này đã đợc cả lý luận và thực tế chứng minh.
Thứ nhất, xét về mối quan hệ biện chứng giữa đầu t trong nớc và
đầu t nớc ngoài. Kinh nghiệm trong nớc và quốc tế đã chỉ ra rằng: vốn đầu
t nớc ngoài có vai trò rất quan trọng nhất là trong giai đoạn đầu của quá
trình tăng trởng, đặc biệt là đối với các nớc chậm phát triển, với các nguồn
vốn tích luỹ trong nớc còn thấp, bắt buộc phải tranh thủ nguồn vốn bên
ngoài. Nó đợc ví nh cú hích đội phá vào cái vòng luẩn quẩn của nghèo
đói, tạo điều kiện cho nền kinh tế cất cánh.
Mặc dù nguồn vốn nớc ngoài là rất quan trọng song nguồn vốn đầu t
trong nớc vẫn đóng vai trò quyết định. Bởi lẽ, nguồn vốn đầu t nớc ngoài dù
có lớn đến đâu nữa nếu không có các nguồn vốn đầu t do sự tích luỹ từ nội
tại nền kinh tế thì nguồn vốn từ nớc ngoài cũng không thể sử dụng có hiệu
quả. Mặt khác, đầu t trong nớc vừa đảm bảo tăng trởng ổn định, lại vừa
tránh đợc sự phụ thuộc vào nớc ngoài.
Tuy đầu t nớc ngoài là vô cùng quan trọng, nhng không thể thực hiện
tốt mục tiêu CNH, HĐH đất nớc nếu chỉ trông chờ vào đầu t nớc ngoài. Vì
họ chỉ đầu t vào các ngành, khu vực có nhiều thuận lợi để khai thác các lợi
thế của Việt nam. Khi không còn kiếm đợc lợi nhuận họ sẽ ngay lập tức rút
khỏi nớc ta. Đầu t trong nớc có một tiềm năng to lớn và ít biến động hơn d-
ới ảnh hởng của các yếu tố bên ngoài, cần và có thể đóng vai trò chủ đạo,
nhất là trong điều kiện đầu t nớc ngoài đang giảm sút nghiêm trọng nh hiện
nay.
Còn nếu xét trên tầm vi mô, cùng với vốn bên ngoài, nhất thiết phải
có vốn đối ứng bên trong mới có thể triển khai công trình thuận lợi.
Thêm vào đó, cần có cả vốn cho các công trình ngoài hàng rào nh đầu t
7
vào cơ sở hạ tầng: điện, cấp thoát nớc, thông tin liên lạc và hạ tầng xã hội
khác. Theo nh kinh nghiệm các nớc, nếu vốn đầu t cho nhà máy là 1 thì vốn
đầu t ngoài hàng rào cho các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội cũng
phải nhiều hơn, có khi 2 3 lần. Do đó, dù là công trình vay vốn nớc ngoài
thì vốn trong nớc cũng rất quan trọng.
Thứ hai, trong lịch sử phát triển các nớc và trên phơng diện lý luận
chung, bất cứ nớc nào cũng phải sử dụng lực lợng nội bộ là chính. Sự chi
viện, bổ sung từ nớc ngoài, dù là viện trợ, cho vay hay đầu t của nớc ngoài
cũng chỉ là tạm thời. Nếu bản thân nền kinh tế không có tiết kiệm nội bộ,
thì đó là nền kinh tế tiêu hao, ăn dần mòn vào của cải, kết cục sẽ đi vào
con đờng bế tắc cho sự phát triển. Vốn ODA là vốn vay thì cuối cùng cũng
phải dùng vốn trong nớc để thanh toán nợ gốc và trả lãi. Việc dùng vốn FDI
cũng chỉ là phần bổ sung, không thể thay thế cho đầu t và sản xuất trong n-
ớc. Hơn nữa, trong thời kỳ dài hạn, nguồn của cải làm ra phải dành một
phần cho chuyển lãi và vốn gốc ra nớc ngoài, nên việc thiếu vốn vẫn căng
thẳng.
ở Việt nam những năm (1966-1990), khi tích luỹ nội bộ nền kinh tế
là con số âm thì cũng đồng thời là thời kỳ phát triển kinh tế bấp bênh, mất
cân đối nghiêm trọng. Khi nền kinh tế có mức tích luỹ nội bộ ngày càng
cao (từ 1991 đến nay) thì đồng thời nhịp độ tăng trởng kinh tế cũng tăng
lên và tạo điều kiện cho phát triển dài hạn.
Thứ ba, nếu xét về mặt lợi ích dân tộc, nếu không có vốn trong nớc
đủ mức, xét về lâu dài khối lợng của cải làm ra (thông qua chỉ tiêu GDP) có
thể lớn, nhng của cải thực sự mà nhân dân ta đợc hởng thụ lại rất ít. Thành
ra, nền kinh tế có vẻ phồn vinh , sản phẩm có vẻ dồi dào, nhng là phồn vinh
giả do của cải không vào tay nhân dân trong nớc.
Hiện nay, tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam vào các liên doanh chỉ
giậm chân ở mức 30% nh hiện nay cũng do tình trạng thiếu vốn đối ứng
trong nớc. Không ít xí nghiệp phải dùng quỹ đất đa vào góp vốn, phần thiếu
lại đi vay nợ nớc ngoài để đóng góp vốn cho các liên doanh.
8
Tuy nhiên, để đầu t trong nớc thể hiện đợc vai trò của mình, thì điều
kiện không thể thiếu đợc là phải có một cơ chế, chính sách phù hợp tạo
động lực khuyến khích đầu t trong nớc. Cơ chế chính sách khuyến khích
đầu t này cũng có vai trò không kém phần quan trọng.
Thứ nhất, nó tạo điều kiện huy động và sử dụng có hiệu quả mọi
nguồn vốn, tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nớc nhằm
góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Thứ hai, nó góp phần phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện phát triển đồng đều
giữa các vùng, địa phơng trong cả nớc.
Thứ ba, nó thể hiện vai trò quản lý Nhà Nớc về kinh tế đối với hoạt
động đầu t. Bằng các qui định về luật pháp, các đòn bẩy kinh tế, Nhà Nớc
quản lý các hoạt động đầu t trong nớc theo hớng có lợi nhất cho sự phát
triển kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội.
Từ những lý do trên, rõ ràng là đầu t trong nớc và khuyến khích đầu
t trong nớc có một ý nghĩa quyết định trong chiến lợc phát triển kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia.
1.3. Kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới về khuyến khích đầu t
trong nớc:
Kinh nghiệm thành công của nhiều nớc trên thế giới cho thấy rằng
không một nớc nào có thể phát triển kinh tế thành công nếu chỉ dựa vào
vốn nớc ngoài. Nếu nh trong giai đoạn đầu, khi đất nớc còn nghèo và cha
phát triển, tỷ lệ vốn nớc ngoài có thể cao, song toàn bộ quá trình CNH
HĐH, cùng với quá trình phát triển, tỷ lệ vốn nớc ngoài thờng thấp hơn so
với vốn trong nớc. Nhng việc đánh giá đúng vai trò và mối quan hệ giữa
chiến lợc thu hút vốn trong nớc và vốn nớc ngoài trong từng thời kỳ nhất
định không phải là công việc đơn giản. Xuất phát từ luận điểm trên, tôi xin
trình bày một số biện pháp khuyến khích đầu t đợc coi là thành công của
các nớc Châu á, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc KKĐTTN ở nớc
ta.
9
1.3.1 Các biện pháp và chính sách huy động vốn đầu t trong n ớc của
một số n ớc trên thế giới:
Một trong những biện pháp huy động vốn đầu t mà hầu hết các nớc
trên thế giới đều áp dụng và ban hành và thực thi Luật thúc đẩy (hay
khuyến khích đầu t). Nhìn chung, các đạo Luật này đều nhằm mục đích
thúc đẩy hoạt động đầu t trong toàn bộ nền kinh tế, đồng thời nó cũng hớng
đầu t vào một số lĩnh vực u tiên phát triển của đất nớc.
1.3.1.1 Malaysia:
ở Malaysia, các biện pháp u đãi và khuyến khích đầu t đợc quy định
chủ yếu trong Luật khuyến khích đầu t ban hành năm 1986 và Luật Thuế
thu nhập công ty năm 1967. Malaysia quy định chế độ khuyến khích và u
đãi đầu t cho từng lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp và du lịch. Trong u
đãi từng ngành, có biện pháp u đãi, khuyến khích đầu t chung và u đãi đầu
t theo mục tiêu.
A> Đối với ngành công nghiệp:
Các biện pháp u đãi chung bao gồm: Miễn thuế lợi tức tối đa 10 năm
cho các dự án thuộc loại u tiên; đợc hởng chế độ trợ cấp đến 100% số vốn
đầu t thực hiện trong 5 năm đầu, kể từ khi thông qua dự án, trợ cấp cho tái
đầu t với mức tối đa là 40% số vốn tái đầu t. Ngoài ra, Malaysia còn có các
biện pháp khuyến khích đầu t cho xuất khẩu (nh cấp tín dụng xuất khẩu với
lãi suất u đãi, khấu trừ ra khỏi lợi tức chịu thuế một khoảng bằng 5% giá trị
nguyên liệu trong nớc đợc sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu, tính gấp đôi
phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu, tính gấp đôi phí
khuyến mại, quảng cáo, nghiên cứu và tìm kiếm thị trờng ở nớc ngoài );
các biện pháp khuyến khích đầu t nghiên cứu và phát triển (khấu trừ mọi
chi phí nghiên cứu khoa học do công ty thực hiện hoặc đợc thực hiện nhân
danh công ty, nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công
ty, ra khỏi lợi tức chịu thuế, trợ cấp vốn cho việc mua máy móc, thiết bị
phục vụ cho nghiên cứu khoa học, khấu trừ ra khỏi lợi tức chịu thuế các
khoản đóng góp cho các viện nghiên cứu đợc Nhà Nớc thừa nhận); các biện
10
pháp khuyến khích cho đào tạo (trợ cấp xây dựng nhà xởng cho công tác
đào tạo, tính gấp đôi chi phí đào tạo công nhân ở các viện đào tạo đợc Nhà
Nớc công nhận).
B> Đối với ngành nông nghiệp:
Các biện pháp u đãi chung bao gồm: miễn thuế lợi tức tối đa 10 năm
cho các công ty chế biến sản phẩm nông nghiệp hoặc có đủ điều kiện do Bộ
Thơng mại và Công nghiệp quy định; đợc trợ cấp đến 100% chi tiêu đầu t
thực hiện trong 5 năm đầu.
Ngoài ra, lĩnh vực này cũng có các biện pháp khuyến khích xuất
khẩu, khuyến khích nghiên cứu và phát triển và khuyến khích đào tạo nh
đối với công nghiệp.
Nh vậy, đối với 2 lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế (công nghiệp và
nông nghiệp), ngoài các biện pháp u đãi chung, Malaysia còn tập trung
khuyến khích đầu t vào lĩnh vực xuất khẩu, nghiên cứu và phát triển, đào
tạo. Điều này thể hiện quan điểm dựa vào nội lực để phát triển khoa học
kỹ thuật và đội ngũ công nhân kỹ thuật cao của Malaysia.
C> Đối với ngành du lịch:
Các biện pháp u đãi chung giống với đối với ngành công nghiệp,
đồng thời những ngời thực hiện du lịch lữ hành hàng năm đa vào Malaysia
ít nhất 500 khách du lịch thì đợc miễn thuế thu nhập đối với phần thu nhập
đực từ kinh doanh du lịch theo hình thức này.
Ngoài chế độ u đãi riêng cho từng ngành nh trên , đạo Luật này còn
quy định một số biện pháp khuyến khích đầu t chung cho tất cả các ngành
nh miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị nhập khẩu phục vụ cho các dự
án đầu t, các nguyên liệu, vật liệu để sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu;
hoàn thuế doanh thu đối với nguyên liệu, vật t sản xuất trong nớc đợc sử
dụng sản xuất hàng xuất khẩu hoặc đóng gói hàng xuất khẩu.
1.3.1.2. Inđônêxia:
Còn ở Inđônêxia, các biện pháp u đãi chủ yếu quy định trong Luật
về đầu t trong nớc (ban hành 1968) bao gồm:
11
- Vốn đầu t đợc thực hiện trong 5 năm đầu kể từ khi Luật này có hiệu
lực, không bị điều tra về nguồn gốc, không phải là đối tợng đánh thuế.
- Miễn thuế tài sản đối với vốn đầu t vào các lĩnh vực u tiên.
- Thời hạn miễn thuế lợi tức tối đa cho một dự án là 6 năm và tối
thiểu là 2 năm.
- Miễn thuế thu nhập đối với lợi tức cổ phần trong thời hạn tơng ứng.
- Hoàn thuế lợi tức đối với lợi nhuận tái đầu t.
- Miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với t liệu nhập khẩu.
- Các chế độ giảm thuế lợi tức khác.
1.3.1.3. Thái Lan:
ở Thái Lan, Luật thúc đẩy đầu t đợc ban hành năm 1977 và đợc sửa
đổi lại vào năm 1992. Luật này có điểm khác biệt so với luật của các nớc
khác là nó áp dụng cho cả đầu t trong nớc và đầu t nớc ngoài.
Luật này quy định các tiêu chuẩn chủ yếu để đợc cấp u đãi đầu t (nh
số vốn và nguồn vốn đầu t; loại sản phẩm, dịch vụ; mức độ sử dụng nguyên
liệu trong nớc; mức độ sử dụng công nhân và chuyên gia trong nớc; bảo vệ
môi trờng; u đãi đặc biệt cho sản xuất hàng xuất khẩu ); các biện pháp u
đãi chủ yếu (miễn thuế lợi tức từ 3 đến 8 năm, miễn giảm thuế nhập khẩu,
miễn thuế thu nhập cổ phần ). Ngoài ra còn có các u đãi riêng cho các dự
án đầu t vào các vùng u tiên đầu t (giảm 50 % thuế lợi tức trong 5 năm tiếp
theo kể từ khi hết hạn miễn thuế, khấu trừ thuế ) và các dự án sản xuất
hàng xuất khẩu( miễn thuế, khấu trừ thuế ).
1.3.1.4. Đài Loan:
ở nớc này, biện pháp khuyến khích chủ yếu là khuyến khích về thuế
(khấu hao nhanh để đổi mới thiết bị, cho nợ thuế để đầu t, miễn thuế lợi
tức, áp dụng mức thuế tối đa cho từng loại doanh nghiệp khác nhau).
Ngoài ra, ở nớc Đài Loan ngời ta còn sử dụng một số biện pháp khác nh:
cấp tín dụng xuất khẩu với lãi suất u đãi; cho vay đầu t với lãi suất u đãi từ
Quỹ đầu t; Ưu đãi đầu t nghiên cứu và phát triển; đào tạo nghề miễn phí
cho thanh niên
12
1.3.1.5. Hàn Quốc:
Đối với Hàn Quốc, điểm đáng chú ý là có 3 giai đoạn phát triển với
những u tiên phát triển khác nhau.
A> Giai đoạn thứ nhất: kéo dài đến đầu thập kỷ 70 mà trọng tâm u
tiên phát triển là khuyến khích và thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu. ở
giai đoạn này, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng các biện pháp nh: cấp tín dụng
xuất khẩu với lãi suất u đãi, trợ cấp trực tiếp; giảm cớc phí vận chuyển,
miễn giảm thuế nhập khẩu, hoàn thuế gián thu
B> Giai đoạn thứ hai: kéo dài trong suốt thập kỷ 70 cho đến những
năm đầu thập kỷ 80, trong đó u tiên phát triển đợc dành cho công nghiệp
nặng và công nghiệp hoá chất. Trong giai đoạn này, mức độ và u tiên cho
xuất khẩu giảm xuống, thay vào đó là các biện pháp nhằm khuyến khích
phát triển ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất. Đó là các biện
pháp: Miễn giảm thuế lợi tức (đợc qui định cụ thể cho từng ngành công
nghiệp); cấp tín dụng u đãi từ Quỹ đầu t quốc gia; Bảo lãnh các khoản vay
thơng mại; miễn thuế nhập khẩu đối với t liệu sản xuất, thiết bị nhập khẩu
C> Giai đoạn thứ ba: bắt đầu từ thập kỷ 80 mà trọng tâm của nó đã
chuyển sang khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính phủ Hàn Quốc
tập trung vào 5 nhóm biện pháp chính là: hỗ trợ ngời bắt đầu bớc vào kinh
doanh; hỗ trợ cơ cấu lại doanh nghiệp vừa và nhỏ; hỗ trợ cung cấp mặt bằng
kinh doanh; hỗ trợ đầu t vào TSCĐ.
Nhìn chung, các biện pháp hỗ trợ và u đãi ở Hàn Quốc rất hiệu quả,
kịp thời. Đó là do chính phủ Hàn Quốc đã biết kết hợp giữa mục tiêu ngắn
hạn với mục tiêu dài hạn, kịp thời thay đổi các chính sách cho phù hợp với
những thay đổi nớc mình và trên thị trờng quốc tế. Theo tôi, đây là một
kinh nghiệm hay mà Việt Nam có thể học tập.
Để tiện theo dõi, tôi sẽ trình bày các biện pháp u đãi đầu t chủ yếu đ-
ợc sử dụng ở một số nớc Châu á nh sau:
13
T
T
Ưu đãi Malaysia Inđônêxia Thái
Lan
Đài
Loan
Hàn
Quốc
1 Miễn thuế lợi tức x x x x x
2 Miễn thuế thu nhập
đối với lợi tức cổ phần
x x x x x
3 Trợ cấp đầu t x x x x x
4 Chuyển lỗ trong thời
kỳ đợc miễn thuế sang
thời kỳ đã hết hạn
miễn thuế
x x x x x
5 Khấu hao nhanh
TSCĐ
x x x x x
6 Miễn thuế nhập khẩu
với máy móc thiết bị
x x x x x
7 Trợ cấp tái đầu t x x x x
8 Tín dụng xuất khẩu
với lãi suất u đãi
x x x x
9 Hoàn lại thuế đối với
nguyên liệu, vật t đợc
sử dụng để sản xuất
hàng xuất khẩu
x x x x x
10 Ưu đãi với đầu t
nghiên cứu khoa học
và phát triển
x x x x x
11 Khuyến khích đối với
đào tạo và nâng cao
tay nghề
x x x x
12 Ưu đãi đối với đầu t
để phát triển những
vùng khó khăn
x x
13 Khuyến khích phát
triển công nghiệp vừa
và nhỏ
x x x x X
14 Miễn thuế Tài Sản đối x
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét