Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới tại công ty chứng khoán Việt Nam

Chuyên đề thực tập
- Công ty đầu t ngân hàng : Loại công ty này phân phối những
chứng khoán mới đợc phát hành và bán lại các chứng khoán này cho công
chúng theo giá tính gộp cả lợi nhuận của công ty . Vì vậy, công ty này gọi là
nhà bảo lãnh phát hành
- Công ty kinh doanh chứng khoán: Là công ty chứng khoán chủ
yếu thực hiện nghiệp vụ tự doanh, có nghĩa là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm
về hậu quả kinh doanh.
- Công ty giao dịch phi tập trung: Là công ty chứng khoán hoạt
động chủ yếu trên thị trờng OTC và họ đóng vai trò là nhà tạo thị trờng.
- Công ty môi giới chứng khoán : Là công ty chứng khoán chỉ thực
hiện việc trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng để hởng hoa hồng.
Trải qua quá trình hàng trăm năm, tơng thích với sự phát triển của thị
trờng( số lợng và chủng loại khách hàng, số lợng và chủng loại sản phẩm
dịch vụ tài chính), các công ty môi giới chứng khoán đợc hình thành và phát
triển theo hớng rất đa dạng, cả về phơng diện quy mô, địa bàn hoạt động
cũng nh tính chất hoạt động. Công ty môi giới có thể phân loại theo nhiều
tiêu thức khác nhau nh:
a) Phân loại theo phạm vi hoạt động
Công ty tầm quốc gia
Theo tài liêu của thị trờng Mỹ, các công ty tầm quốc gia là công ty
thành viên của NYSE. Trong tổng số 77000 nhân viên môi giới của công ty
này, 70% làm việc cho một trong số 11 hãng bán lẻ lớn nhất. Đa số các hãng
quốc gia của NYSE đều có chung đặc điểm sau:
- Cung cấp các sản phẩm đầu t cả gói, bao gồm các công cụ của quỹ
tơng hỗ, bảo hiểm nhân thọ, các khoản niên kim, các đơn vị đầu t quỹ tín thác
và những công ty hợp danh hữu hạn.
- Có năng lực nghiên cứu mạnh, với đội ngũ đông đảo chuyên gia
phân tích theo dõi hàng trăm công ty, trong đó có những công ty quốc gia nổi
tiếng đồng thời cả những công ty vừa đầy triển vọng. Ngời đầu t có đợc những
ngời môi giới thuộc những công ty môi giới này sẽ tiếp cận đợc tới đỉnh cao
của việc nghiên cứu công ty quan trọng nhất của quốc gia và thế giới.
5
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
5
Chuyên đề thực tập
- Có ảnh hởng lớn, có thể dịch chuyển xu hớng gía cả của thị trờng.
Dân chúng thực sự lắng nghe ý kiến từ những công ty này, bởi vậy khi bộ phận
nghiên cứu của công ty thuộc loại này a thích một cổ phiếu nào đó và công bố
điều đó, nó có khả năng đẩy cổ phiếu đó tăng mạnh.
- Uy tín lớn. Những công ty này rất ý thức về việc giữ gìn hình ảnh
của mình. Họ làm tất cả mọi điều để giữ cho hoạt động kinh doanh của mình
luôn luôn tiến tới; cố gắng thực hiện sự kiểm soát đợc tiêu chuẩn hóa và nghiêm
ngặt, coi trọng việc duy trì thái độ tuân thủ của các phòng ban, nhằm đảm bảo
mọi việc đợc thực hiện đúng pháp luật.
- Giáo dục công chúng là việc làm đợc các công ty lớn chú trọng.
Mỗi khi có sản phẩm mới, hay một văn bản pháp luật mơí ban hành, các công ty
đều tổ chức các buổi hội thảo hoặc thuyết trình để tuyên truyền , giải thích cho
công chúng.
Các công ty tầm khu vực
Về nhiều phơng diện thì công ty này cũng giống nh các công ty tầm quốc
gia. Chỗ khác chủ yếu là những công ty này nhỏ hơn, trụ sở chính của chúng th-
ờng nằm ngoài Thành phố New york, và họ có xu hớng tập trung nổ lực nghiên
cứu vào những công ty nằm trong địa phận của mình.
Công ty này có lợi thế nh:
- Vị trí thuận tiện. Các công ty tầm khu vực thiết lập các trụ sở chi
nhánh ở những nơi mà một công ty quốc gia có thể không với tới đợc.
- Tụ điểm bán lẻ. Khác với công ty lớn tầm quốc gia, đa số công ty
tầm khu vực của NYSE đều tập trung chỉ vào hoạt động bán lẻ.
- Các công ty tầm khu vực chào các dịch vụ có tính cá nhân cao
hơn. Những khiếu nại của ngời đầu t sẽ đợc giải quyết nhanh chóng hơn, do hội
sở đặt ngay tại khu vực.
- Nghiên cứu khu vực. Các hãng tầm khu vực có xu hớng tập trung
vào những cổ phiếu trong phạm vi khu vực mình, mà công ty tầm quốc gia th-
ờng hay bỏ qua.
6
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
6
Chuyên đề thực tập
Công ty cổ phiếu nhỏ
Đây là những công ty chuyên làm ăn với những cổ phiếu có giá thấp, dới
5$ một cổ phiếu. Những công ty này thờng giao dịch những cổ phiếu có rủi ro
cao hơn so với những công ty khác. Lợi thế của cổ phiếu này là nếu nó diễn
biến tốt thì lợi nhuận cho một nhà đầu t là rất lớn. Song để hoạt động thành
công, các công ty này cũng đã trải qua khá nhiều thất bại. Bất lợi của công ty
này là năng lực nghiên cứu cũng nh chủng loại đầu t của họ rất hạn chế, ngời
môi giới ít đợc đào tạo hơn.
Các hãng chuyên phục vụ các định chế
Các hãng này theo truyền thống thờng phục vụ cho các định chế lớn, nh
các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, quỹ hu trí và những công ty khác quản
lý khối lợng tài sản lớn. Các hãng này cung cấp những kết quả nghiên cứu đầu
t và dịch vụ t vấn tinh vi, cung cấp cả những dịch vụ ngân hàng đầu t, kể cả việc
bảo lãnh phát hành chứng khoán, sáp nhập và thâu tóm.
Trên NYSE, có 80% cổ phiếu thờng là do các nhà đầu t cá nhân nắm giữ.
Tuy nhiên các định chế vẫn thống trị giao dịch- chiếm 2/3 tổng khối lợng giao
dịch. Trong những ngày mà khối lợng giao dịch lên tới 200 triệu cổ phiếu thì
gần 133 triệu trong đó là do các định chế giao dịch. Lợi thế của những công ty
này là với khối lợng giao dịch lớn, mức giảm giá là đáng kể; hoạt động nghiên
cứu mang tính nhà nghề cao với những báo cáo rất chi tiết.
b) Phân loại theo dịch vụ cung cấp
Công ty môi giới giảm giá
Hoạt động của công ty này chủ yếu là giúp khách hàng thực hiện các
lệnh mua bán chứng khoán. Công ty môi giới giảm giá thích hợp cho các nhà
đầu t tự mình đa ra các quyết định mua bán. Nhiều nhà đầu t không muốn lơì
khuyên hay kết quả nghiên cứu đầu t của ngời môi giới. Những nhà đầu t này
chỉ muốn thực hiện giao dịch trên tất cả hay một phần đầu t của họ với giá tốt
nhất có thể, cùng với khoản hoa hồng chỉ phản ánh chi phí của dịch vụ đó thôi.
Gọi là công ty môi giới giảm gía hàm nghĩa chi phí của công ty này thấp hơn
nhiều so với chi phí của những công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ đầy đủ.
Song sử dụng dịch vụ này cũng có những hạn chế nhất định. Nếu nhà đầu
t có một khoản lỗ nào đó trên tài khoản của công ty giảm giá, sẽ không có một
7
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
7
Chuyên đề thực tập
ngời môi giới cá nhân nào có thể tới để sữa chữa sai lầm cho ông ta. Quan trọng
hơn nếu nh ngời đầu t cần một lơì khuyên về tài khoản cụ thể, ngời môi giới
giảm giá không thể giúp đợc. Nhng khi giá cổ phiếu giảm sút bất ngờ, ngời đầu
t vì không biết lý do nên sẽ lúng túng không biết nên bán ra hay giữ lại, hoặc
thậm chí mua thêm. Nếu sử dụng công ty môi giới dịch vụ đầy đủ thì ngời đầu
t không chỉ nhận đợc lời khuyên về những cổ phiếu hay trái phiếu cụ thể mà
quan trọng không kém là ngời môi giới có thể thúc đẩy khách hàng tiếp tục đầu
t trong cả thời kỳ tốt cũng nh xấu. Chính vì lẽ đó, công ty môi giới giảm gía chỉ
thích hợp cho các đối tợng:
Các nhà đầu t dài hạn tiến hành nghiên cứu thị trờng: Một số ngời
đầu t thích nghiên cứu thị trờng, theo dõi các xu hớng của nghành và lựa chọn
những cổ phiếu có tiềm năng lớn. Đây là sở thích của họ, và nếu những nổ lực
của riêng họ có kết quả một cách hợp lý, họ có thể giàu lên nếu sử dụng công ty
môi giới giảm giá. Nhiều trong số những ngời đầu t này vừa có ngời môi giới
dịch vụ đầy đủ vừa có ngời môi giới chiết khấu.
Các nhà kinh doanh ngắn hạn theo trờng phái kỹ thuật. Họ thờng
tự mình vẽ đồ thị cho các cổ phiếu và tiến hành giao dịch trên cơ sở ngắn hạn.
Các nhà giao dịch năng động có thể đảo danh mục đầu t của họ mỗi tháng một
lần. Nếu sử dụng dịch vụ đầy đủ, chi phí giao dịch của họ trong 12 tháng là
một số khổng lồ( Chẳng hạn với mức phí 2% cho một giao dịch, mỗi lần họ
thay đổi một chứng khoán, họ mất 2% cho việc bán ra và 2% cho việc mua vào,
tức là 4% trong một tháng, và 48% một năm). Sử dụng dịch vụ môi giới giảm
gía sẽ tiết kiệm đợc rất nhiều chi phí giao dịch.
Những nhà đầu t chỉ giao dịch một lần. Nếu một ngời nhận đợc
món quà hay đợc thừa kế và muốn bán nó đi, ngời đó cần sử dụng một công ty
môi giới giảm gía để giúp tiến hành giao dịch, bởi giao dịch này không đòi hỏi
những dịch vụ đặc biệt hay lời khuyên từ ngời môi giới.
Công ty môi giới dịch vụ đầy đủ
Công ty này cung cấp một dải dịch vụ hoàn hảo, từ việc đa ra kết quả
nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên đến việc theo dõi tài khoản và kịp thời
đa ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng. Ngời môi giới dịch vụ
đầy đủ sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi và giúp khách hàng giải quyết các vấn đề
8
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
8
Chuyên đề thực tập
phát sinh. Ngoài việc đa ra lời khuyên, ngời môi giới dịch vụ đầy đủ còn
chào nhiều dịch vụ khác không có đợc ở ngời môi giới giảm giá.
Những ngời đầu t sử dụng ngời môi giới dịch vụ đầy đủ là:
Những ngời luôn đánh giá cao sự thuận tiện của việc luôn luôn có sẵn một
cố vấn chuyên nghiệp hớng dẫn những quyết định mua bán của họ. Họ thừa
nhận những những hạn chế của bản thân trên thị trờng đầu t phức tạp và coi ng-
ời môi giới là các chuyên gia công nghiệp, ngời có thể giúp cho các khoản đầu
t của họ không ngừng lớn lên.
Những ngời đánh giá cao sự quan tâm cá nhân của một ngời môi giới dịch
vụ đầy đủ, muốn có một ngời môi giới luôn để mắt đến tài khoản của mình, gọi
điện khi cần thiết và quan tâm đến những vấn đề của họ.
Nói tóm lại, theo sự phát triển của thị trờng, các công ty chứng khoán cũng
dần dần đợc chuyên môn hoá theo nghiệp vụ, theo khu vực hoạt động, theo đối
tợng khách hàng, chủng loại sản phẩm Tuỳ tính chất của thị trờng mà tính chất
chuyên môn hoá sẽ phát triển theo chiều hớng này hoặc hớng khác.
1.1.2 Mô hình của công ty chứng khoán
Hệ thống ngân hàng thơng mại và thị trờng chứng khoán có mối quan hệ
hữu cơ với nhau. Hầu hết các nớc trên thế giới đã có xu hớng gắn kết hai lĩnh
vực hoạt động này, xây dựng và phát triển thị trờng chứng khoán dựa trên sự
phát triển của ngân hàng. Song trong điều kiện cụ thể của mình, pháp luật các
nớc lại có những quy định khác nhau.
Trên thế giới, có ba mô hình công ty chứng khoán cơ bản:
Mô hình thứ nhất là mô hình ngân hàng đa năng toàn phần. Trong mô
hình này không có bất kỳ sự tách biệt nào giữa hoạt động của ngân hàng và hoạt
động kinh doanh chứng khoán. Các ngân hàng đa năng đợc phép cung cấp đầy
đủ các dịch vụ: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Mô hình này đợc áp dụng
tại Đức, các nớc Bắc Âu, Hà lan, Thuỵ Sỹ và áo.
Mô hình đa năng toàn phần cho phép các công ty chứng khoán tận dụng
triệt để các lợi thế về nhân lực, vật lực để cung cấp các dịch vụ tổng hợp cho
khách hàng. Việc đa dạng hoá các dịch vụ cho phép ngân hàng đa dạng hoá
hoạt động kinh doanh, san sẻ rủi ro giữa các lĩnh vực đầu t, tăng khả năng
chống đỡ của ngân hàng trớc các biến động kinh tế.
9
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
9
Chuyên đề thực tập
Tuy nhiên việc áp dụng mô hình ngân hàng đa năng toàn phần có những
hạn chế nhất định. Trớc hết, ngân hàng đan năng không có sự tách biệt giữa vốn
để cho vay hay vốn để kinh doanh chứng khoán. Điều này gây khó khăn cho
công tác quản lý thị trờng và ảnh hởng tới việc kiểm soát khả năng thanh toán
của hệ thống ngân hàng
Mô hình ngân hàng đa năng một phần. Trong mô hình này, ngân hàng
muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con, có t cách pháp nhân
độc lập, do vậy loại bỏ đợc nhợc điểm của mô hình đa năng toàn phần, tạo sự
độc lập tơng đối giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng
khoán. Tuy nhiên nó có nhợc điểm là tạo sự trùng chéo về tổ chức, làm giảm
hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Mô hình này đợc áp dụng tại Vơng quốc
Anh, Canada và úc.
Mô hình công ty chứng khoán độc lập ( chuyên doanh). Mô hình này
tách biệt hoàn toàn hai ngành công nghiệp ngân hàng và chứng khoán với việc
cấm ngân hàng tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán. Hoạt động chỉ
dành cho công ty chứng khoán chuyên doanh đảm nhận. Ưu điểm của mô hình
này là hạn chế rủi ro cho cả hệ thống ngân hàng và thị trờng chứng khoán. Mô
hình này đợc áp dụng tại Mỹ theo đạo luật Glass-Steagall và ở Nhật. Tuy nhiên,
mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh làm giảm sự cạnh tranh trong hệ
thống tài chính, đồng thời làm lãng phí tiềm lực về tài chính và uy tín của các
ngân hàng trong việc trợ giúp thị trờng chứng khoán phát triển. Hiện nay, các n-
ớc áp dụng mô hình này cũng đang chuyển sang mô hình đa năng một phần
bằng cách nới lỏng các điều kiện cho phép các ngân hàng tham gia thị trờng
chứng khoán.
Các phân tích trên cho thấy, mỗi mô hình đều có u nhợc điểm riêng và
không có mô hình nào là tối u đối với một quốc gia. Với các nớc phát triển, trên
cơ sở các điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật, môi trờng pháp lý, kinh
nghiệm tổ chức quản lý và trình độ nhận thức cũng thu nhập của công chúng
cao, có thể áp dụng mô hình ngân hàng đa năng toàn phần sẽ phát huy đợc
những u thế của sự kết hợp giữa hai lĩnh vực kinh doanh này với nhau. Song đối
với các nớc đang phát triển, mô hình ngân hàng đa năng một phần lại đảm bảo
sự an toàn cần thiết cho hoạt động của các ngân hàng và của thị trờng chứng
khoán. Cho dù theo mô hình nào, hoạt động của các công ty chứng khoán bao
10
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
10
Chuyên đề thực tập
gồm các hoạt động: môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành, t vấn, quản lý
danh mục đầu t và các hoạt động phụ trợ khác.
1.1.3 Hoạt động của công ty chứng khoán
1.1.3.1 Các nghiệp vụ cơ bản
a) Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó
một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông
qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trờng OTC mà chính
khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch
đó. Rủi ro mà nhà môi giới hay gặp phải là các khách hàng của mình hoặc nhà
môi giới giao dịch khác không thể thực hiện thanh toán đúng thời hạn.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến khách
hàng các sản phẩm, dịch vụ t vấn và kết nối giữa nhà đầu t bán chứng khoán với
nhà đầu t mua chứng khoán. Và trong những trờng hợp, nhà môi giới sẽ là ngời
bạn, ngời chia sẻ những lo âu căng thẳng và đa ra những lời động viên kịp thời
cho nhà đầu t, giúp nhà đầu t có những quyết định tỉnh táo.
Nghiên cứu kỹ hơn về nghiệp vụ môi giới sẽ đợc trình bày trong phần II của
chơng này.
b) Nghiệp vụ tự doanh
Nghiệp vụ tự doanh là nghiệp vụ kinh doanh trong đó công ty chứng
khoán mua bán chứng khoán bằng tiền của mình, rủi ro do chính công ty chịu
và họ có thể làm thêm nhiệm vụ tạo thị trờng cho một loại hàng chứng khoán
nào đó.
Nhà giao dịch có lãi hay lỗ tuỳ vào giá chênh lệch giữa giá mua và giá
bán chứng khoán và biến động chung của giá chứng khoán do họ nắm giữ. Hoạt
động mua bán chứng khoán có thể là:
- Giao dịch gián tiếp: tức là công ty chứng khoán đặt lệnh mua và
bán của mình trên sở giao dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với bất kỳ khách
hàng nào xác định trớc.
11
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
11
Chuyên đề thực tập
- Giao dịch trực tiếp: là giao dịch giữa công ty chứng khoán và
khách hàng thông qua thơng lợng. Đối tợng giao dịch loại này thờng là các loại
trái phiếu, các cổ phiếu đăng ký giao dịch ở thị trờng OTC.
Luật các nớc quy định các công ty chứng khoán phải dành một tỷ lệ phần
trăm nhất định giao dịch của mình cho hoạt động bình ổn thị trờng. Các công ty
có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán lên để kìm giá và phải bán ra khi giá
chứng khoán giảm nhằm giữ giá chứng khoán.
c) Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là việc các tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trớc và sau khi chào bán chứng khoán nh định giá chứng khoán,
phân phối chứng khoán và bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu.
Để đợc tham gia vào nghiệp vụ bảo lãnh, công ty chứng khoán phải có một
số vốn tơng đối lớn. Đây là hoạt động mang tính rủi ro khá cao, vì thế công ty
chứng khoán phải thực hiện một loạt các nghiên cứu kỹ lỡng trớc khi quyết
định có hay không chấp nhận bảo lãnh.
Thu nhập của công ty chứng khoán từ hoạt động bảo lãnh là phí bảo lãnh
hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu đợc từ đợt phát hành. Mức
phí này tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành ( số lợng lớn hay nhỏ, thuận
lợi hay khó khăn,phát hành lần đầu hay phân phối sơ cấp, )
Có 3 phơng pháp bảo lãnh là bảo lãnh cam kết tối đa, bảo lãnh cam kết chắc
chắn và bảo lãnh cam kết tất cả hoặc không. Bảo lãnh cam kết tối đa là việc tổ
chức bảo lãnh cam kết phân phối tối đa số chứng khoán của tổ chức phát hành
mà không cam kết có phân phối đợc hết số chứng khoán đó hay không. Trong
trờng hợp này, tổ chức phát hành có thể gặp rủi ro do không huy động đủ vốn
kinh doanh.
Bảo lãnh cam kết chắc chắn là hình thức tổ chức bảo lãnh cam kết mua toàn
bộ số chứng khoán cha phân phối hết của tổ chức phát hành. Trong trờng hợp
bảo lãnh tất cả hoặc không, nếu số chứng khoán đựơc phân phối cha đạt tới giới
hạn tối thiểu đã đợc xác định trớc thì toàn bộ số chứng khoán đã hoặc cha phân
phối đều bị huỷ bỏ.
d) Nghiệp vụ t vấn
12
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
12
Chuyên đề thực tập
T vấn đầu t chứng khoán là hoạt động phân tích, đa ra các khuyến nghị liên
quan đến chứng khoán, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên
quan đến chứng khoán.
Một trong những trở ngại quan trọng đối với thị trờng tài chính là vấn đề
thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Các nhà
đầu t có thể rất khó khăn trong việc thu thập và xử lý thông tin. Công ty chứng
khoán với lợi thế chuyên môn hoá cao, các thông tin tin cậy, có thể dễ dàng hơn
trong vấn đề này và có thể chia sẻ thông tin với các nhà đầu t. Bằng cách này,
các nhà đầu t có thể tiết kiệm chi phí và tăng chất lợng giao dịch. Có hai hình
thức t vấn là t vấn trực tiếp và t vấn gián tiếp. Hình thức t vấn trực tiếp đợc thực
hiện khi các công ty chứng khoán phân tích, xử lý các tình huống đầu t của
chính khách hàng, từ đó có những khuyến nghị trực tiếp trên cơ sở một khoản lệ
phí t vấn thoả thuận. Với cách thức thứ hai, công ty chứng khoán có thể chia sẻ
thông tin của mình thông qua việc phát hành các báo cáo phân tích trên các tạp
chí, sách báo chuyên đề. Việc phát hành các tài liệu này làm tăng uy tín và tạo
thu nhập cho công ty. Công ty chứng khoán phải có trách nhiệm về tính trung
thực của những lời t vấn của mình đối với khách hàng và trong nhiều trờng hợp,
hoạt động t vấn phải đợc quản lý và cấp phép. Tuy nhiên, trong hoạt động t vấn
đầu t chứng khoán, nhà đầu t vẫn phải tự chịu trách nhiệm về cac quyết định
đầu t của mình.
e) Quản lý danh mục đầu t
Quản lý danh mục đầu t là hoạt động quản lý tài sản của khách hàng
thông qua việc mua bán và nắm giữ các chứng khoán theo uỷ thác và vì
quyền lợi của khách hàng.
Đối với nghiệp vụ này, khách hàng uỷ thác cho công ty thay mặt mình
quyết định đầu t theo một chiến lợc hay những nguyên tắc đã đợc khách hàng
chấp thuận
13
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
Thanh
lý hợp
đồng
Ký hợp
đồng
quản lý
Nhận
yêu cầu
quản lý
Công
ty
chứng
khoán
Khách
hàng
13
Chuyên đề thực tập
Trong hoạt động quản lý danh mục đầu t, các trung gian tài chính đảm bảo sự
tách biệt giữa tài sản của khách hàng. Tuỳ theo sự tín nhiệm của khách hàng đối
với công ty mà họ có thể ủy quyên một phần hoặc toàn bộ đối với việc quản lý
tài sản. Định kỳ hoặc theo yêu cầu khách hàng, công ty gửi các bản sao kê về
tình hình tài sản trong danh mục cho các khách hàng , đồng thời không đợc tiết
lộ các thông tin về tài sản của khách hàng trừ các trờng hợp đặc biệt.
Trong họat động quản lý danh mục đầu t, công ty chứng khoán sẽ nhận đợc lệ
phí quản lý tài sản từ phía khách hàng. Hoạt động này cũng góp phần tăng uy
tín và phát triển các hoạt động khác nh lu ký, thanh toán, t vấn.
1.1.3.2 Các nghiệp vụ phụ trợ
a) Nghiệp vụ tín dụng
Công ty chứng khoán có thể cho khách hàng của mình vay để họ mua
chứng khoán và thế chấp chính những chứng khoán đó. Khi khách hàng không
trả đợc nợ, công ty có quyền bán các chứng khoán đó để thu hồi khoản vay.
Giao dịch mua bán với số tiền cho vay này đợc thực hiện trên tài khoản bảo
chứng. Quy trình thực hiện mua bán không khác các giao dịch công ty thực hiện
cho khách hàng trên tài khoản giao dịch.
Rủi ro sẽ xảy ra đối với công ty chứng khoán nếu chứng khoán đợc mua
từ tiền vay giảm giá. Vì thế công ty chứng khoán khi mở tài khoản bảo chứng
cho khách hàng đòi hỏi một tỷ lệ ký quỹ nhất định. Ngoài ra, công ty cũng đa
sách lợc quản lý khoản vay, tránh tập trung vào một loại khách hàng để thu hồi
vốn.
b) Nghiệp vụ cho vay chứng khoán
Cho vay chứng khoán là hoạt động mà công ty cho khách hàng vay
chứng khoán để bán. Trong trờng hợp này khách hàng nghĩ rằng giá chứng
khoán sẽ giảm và khi đó khách hàng mua lại chứng khoán với giá rẻ hơn để trả
cho công ty chứng khoán. Công ty đợc hởng một phần tiền mà khách hàng có đ-
ợc nhờ chênh lệch giá. Loại giao dịch này thực chất là bán khống.
Hai loại giao dịch bảo chứng và bán khống đều có những tác động tích
cực nhất định đối với thị trờng, tạo ra tính thanh khoản, tạo thêm cung cầu và
còn có thể trở thành tác nhân giúp ổn định thị trờng nếu các giao dịch này đi
14
Trần thị ngọc anh- Tài chính doanh nghiệp- K41-KTQD
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét