nghiệm, ngay trong quá trình lao động. Trên thực tế, mọi mức lơng trả cho ng-
ời lao động đều là tiền lơng danh nghĩa.
2.2 Tiền lơng thực tế
Tiền lơng thực tế đợc hiểu là số lợng các loại hàng hoá tiêu dùng và các
loại dịch vụ cần thiết mà ngời lao động hởng lơng có thể mua đợc bằng tiền l-
ơng danh nghĩa của họ.
2.3 Mối quan hệ giữa tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế
Nh trình bày ở trên, tiền lơng thực tế không chỉ phụ thuộc vào gía cả của
các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà họ muốn mua.
Mối quan hệ giữa tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế đợc thể hiện qua
công thức sau:
=
I
TLTT
: chỉ số tiền lơng thực tế
I
TLDN
: chỉ số tiền lơng danh nghĩa
I
GC
: chỉ số giá
Nh vậy, tiền lơng danh nghĩa mà ngời lao động nhận đợc cha thể cho ta
thấy một nhận thức đầy đủ về mức trả công thực tế cho ngời lao động. Lợi ích
mà ngời cung ứng sức lao động nhận đợc ngoài việc phụ thuộc vào mức lơng
danh nghĩa còn phụ thuộc vào giá cả hàng hoá, dịch vụ mà họ mua sẵn.
Quan hệ giữa tiền lơng thực tế và tiền lơng danh nghĩa là rất phức tạp. Bởi
vậy, sự thay đổi của tiền lơng danh nghĩa, của giá cả phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác nhau.
5
I
gc
I
GC
I
TLDN
3. Tiền lơng cơ bản và mức lơng tối thiểu
3.1 Tiền lơng cơ bản
3.2 Tiền lơng tối thiểu
ở nớc ta, trong chế độ tiền lơng ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1993, tiền
lơng tối thiểu đợc hiểu nh sau: Tiền lơng tối thiểu là số tiền nhất định trả cho
ngời lao động làm cong việc giản đơn nhất, ở mức độ nhẹ nhàng nhất và diến
ra trong môi trờng lao động bình thờng. Số tiền đó đảm bảo cho ngời lao động
mua đợc những t liệu sinh hoạt thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của bản
thân và dành một phần để nuôi con và bảo hiểm lúc hết tuổi lao động.
4. Chức năng của tiền lơng
Nh chúng ta đều biết, con ngời là yếu tố quan trọng ảnh hởng quyết
định đến năng suất lao động. Động cơ lao động của con ngời bắt nguồn từ hệ
thống nhu cầu về vật chất và tinh thần. Họ lao động với mục đích làm thoả
mãn nhu cầu bản thân, tập thể và xã hội nhng trớc hết là nhu cầu của chính
bản thân ngời lao động. Càng nghiên cứu càng thấy nhu cầu con ngời ngày
càng phong phú, đa dạng và không bao giờ dừng lại. Tuỳ theo giới tính, lứa
tuổi, đặc điểm tâm lý, không gian và thời gian mà những nhu cầu đó cũng
khác nhau.
Nhu cầu ăn , mặc, ở, sinh hoạt là không thể thiếu đợc. Điều này chỉ có
thể giải quyết đợc thông qua tiền tệ ở đây chính là tiền lơng. Nh vậy, tiền l-
ơng thực sự là công cụ đắc lực , là động cơ chủ yếu thúc đẩy con ngời lao
động, khuyến khích sản xuất phát triển.
6
*> Xét một cách tổng quát, tiền lơng có những chức năng sau:
- Tiền lơng đóng vai trò quan trọng trong đời sống ngời lao động,nó
quyết định sự ổn định và phát triển kinh tế của gia đình họ. Tiền lơng
là nguồn nhằm đảm bảo chi phí để tái sản xuất sức lao động. Vì vậy
nó có tác động lớn đến thái độ của ngời lao động đối với sản xuất.
- Vai trò kích thích của tiền lơng: Vì động cơ của tiền lơng, ngời lao
động phải có trách nhiệm cao với công việc, tiền lơng phải tạo ra sự
say mê nghề nghiệp. Có tiền lơng, ngời lao động tự thấy phải không
ngừng bồi dỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, đúc rút những kinh
nghiệm để làm việc hiệu quả hơn.
- Vai trò điều phối lao động: Với tiền lơng thoả đáng, ngời lao động tự
nguyện nhận mọi công việc đợc giao, có gắng hoàn thành những công
việc trong điều kiện sức lực và trí tuệ cho phép.
- Vai trò quản lý lao động của tiền lơng: Doanh nghiệp sử dụng công cụ
tiền lơng còn với mục đích khác là thông qua việc trả lơng để theo dõi
giám sát ngời lao động, bắt họ làm việc theo ý đồ của mình, đảm bảo
tiền lơng chi ra phải mang lại hiệu quả, kết quả rõ rệt. Hiệu quả của
tiền lơng không chỉ đợc tính theo tháng mà còn đợc tính theo ngày giờ
ở toàn doanh nghiệp, từng bộ phận, từng ngời.
*> Xét trên góc độ quản lý kinh doanh, quản lý xã hội:
Tiền lơng là đòn bẩy kinh tế cực kỳ quan trọng. Thông qua các chính
sách về tiền lơng, Nhà nớc có thể điều chỉnh nguồn lao động giữa các vùng,
khu vực theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
*> Xét trên phạm vi doanh nghiệp:
Tiền lơng đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích ngời lao động
phát huy tài năng sáng tạo của họ, làm việc tận tuỵ, có tráchnhiệm cao với
công việc. Tiền lơng cao hay thấp sẽ là yếu tố gắn bó ngời lao động với doanh
nghiệp. Đặc biệt trong cơ chế thị trờng hiện nay, khi mà hầu hết lao động đợc
tuyển dụng trên cơ sở hợp đồng lao động, ngời lao động có quyền làm việc
7
cho nơi nào mà họ thấy có lợi nhất. Tiền lơng là nguồn sống của ngời lao
động, họ đi làm thuê để đợc hởng lơng và muốn đợc hởng lơng cao, vì vậy tiền
lơng đợc sử dụng nh đòng bẩy kinh tế, một công cụ quản lý bằng phơng pháp
kinh tế trong doanh nghiệp. Thông qua tiền lơng có thể hớng ngời lao động
làm việc theo định hớng của doanh nghiệp, tổ chức sản xuất hợp lý, tăng cờng
kỷ luật lao động cũng nh khuyến khích tăng năng suất lao động.
II. Những yêu cầu, nguyên tắc và nội dung của tổ chức
tiền lơng
1. Các quan điểm về tổ chức tiền lơng
Theo qui định hiện nay của nớc ta, Nhà nớc không trực tiếp quản lý tổng
quỹ tiền lơng của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền tự xây dựng quỹ
tiền lơng nhng phải do cấp trên quy định đơn giá tiền lơng và duyệt quy chế
tiền lơng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền tự lựa chọn các hình thức
trả lơng trong doanh nghiệp trên cơ sở quán triệt nguyên tắc phân phối theo
lao động, kích thích không ngừng tăng năng suất lao động. Mức thu nhập của
mỗi ngời trong doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp và phụ thuộc vào năng suất, chất lợng, hiệu quả công tác của từng ngời.
Nhà nớc không can thiệp vào quỹ tiền lơgn của doanh nghiệp, không quản lý
kế hoạch hoá tiền lơng nh trớc mà chỉ giám sát sử dụng quỹ tiền lơng. Nhà nớc
không cho phép các doanh nghiệp trả lơng cho ngời lao độngthấp hơn mức tối
thiểu nhng vẫn có chinhs sách điều tiết đối với những nơi có thu nhập cao nh
chính sách thuế thu nhập cao. Các doanh nghiệp cần quan tâm tới những qui
định này nhằm mục đích vừa tăng tổng quỹ lơng của mình vừa phân phối tiền
lơng hợp lýcho mỗi công nhân, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa nhịp độ tăng
tiền lơngvới nhịp độ tăng năng suất lao động. Quĩ lơng doanh nghiệp đợc hình
thành khác nhau qua từng thời kỳvà đến nay quỹ lơng trong doanh nghiệp đã
đợc xác định bằng cách căn cứ vào đơn giá tiền lơng.
Doanh nghiệp tự xây dựng đơn giá tiền lơng trình cấp trên duyệt.
8
Nếu là sản phẩm do Nhà nớc định giá thì đơn giá tiền lơng đợc tính bằng
lợng tiền tuyệt đối trên một đơn vị sản phẩm hoặc tỷ lệ tiền lơng trên doanh
thu.
Nếu là sản phẩm doanh nghiệp tự định giá thì đơn giá tiền lơng đợc tính
bằng tỷ lệ tiền lơng trên giá bán một đơn vị sản phẩm (nếu là sản phẩm ổn
định), là tỷ lệ tiền lơng trên tỏng doanh thu ( nếu là sản phẩm không ổn định).
Quỹ tiền lơng của doanh nghiệp phải đợc đăng ký với ngân hàng.
2. Yêu cầu của tổ chức tiền lơng
Trong nền kinh tế thị trờng khi sức lao động đợc thừa nhận là hàng hoá
thì tiền lơng chính là giá cả sức lao động. Tiền lơng phải đảm bảo đủ chi phí
để nuôi sống ngời lao động và thoả mãn một phần nhu cầu trong cuộc sống
của họ. Việc tổ chức tiền lơng phải nhằm xác định đợc những chế độ và phụ
cấp lơng cũng nh tìm đợc những hình thức trả lơng thích hợp nhằm nâng cao
năng suất lao động, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần
của ngời lao động.
Khi tổ chức tiền lơng cho ngời lao động cần đạt những yêu cầu cơ bản
sau:
- Bảo đảm tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần cho ngời lao động. Sức lao động thể hiện ở ttạng thái thể
lực, tinh thần , tâm lý, sinh lý, thể hiện ở trình độ nhận thức, kỹ năng lao động,
phơng pháp lao động. Sức lao động là một trong ba yếu tố của quá trình sản
xuất. Nó là yếu tố quan trọng nhất vì sức lao động có khả năng phát động và
đa các t liệu lao động, đối tọng lao động vào trong quá trình sản xuất.
Mọi hoạt động chỉ có thể duy trì và phát triển với điều kiện không ngừng
tái sản xuất sức lao động( tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng). Theo
quan niệm này, hiện nay tiền lơng là giá cả sức lao động do đó nó phải đảm
bảo tái sản xuất sức lao động.
- Làm cho năng suất lao động không ngừng đợc nâng cao.
9
- Bảo đảm tính đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu Việc thanh toán tiền l ơng
phải trên cơ sở khoa học công khai và rõ ràng để cho ngời lao động có thể tự
mình thanh toán, dự đoán đợc số lơng mà họ có thể nhận đợc hàng ngày, hàng
tháng.Từ đó cố gắng nâng cao tay nghề, năng suất, cờng độ để tăng tiền lơng
của bản thân, đồng thời xoá bỏ những yếu tố gây tính" mập mờ"
trong việc trả lơng.
3. Các nguyên tắc tổ chức tiền lơng
Trong hệ thống tổ chức quản lý lao động, tổ chức tiền lơng giữ một vị trí
đặc biệt quan trọng. Tổ chức tiền lơng tốt có tác dụng trả lơng công bằng, hợp
lý cho ngời lao động, tạo ra tâm lý làm việc thoải mái, phấn khởi trong sản
xuất và giúp doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong quá trình sử
dụng lao động. Để đảm bảo việc tổ chức tiền lơng đợc thực hiện tốt và mang
lại hiệu quả kinh tế cao nhất cần thực hiện những nguyên tắc cơ bản sau:
3.1 Trả lơng ngang nhau cho những lao động nh nhau
Nguyên tắc này đa ra dựa trên quy luật phân phối theo lao động, đảm bảo
sự công bằng trong việc trả lơng cho ngòi lao động. Hai ngời có thời gian , tay
nghề và năng suất lao động nh nhau thì phải đợc trả lơng ngang nhau. Ngợc
lại, những lao động khác nhau thì trả lơng khác nhau, không có bất kỳ sự phân
biệt, đối xử nào trong việc trả lơng. Thực hiện nguyên tắc này nhằm xoá đi sự
lạm dụng những tiêu thức bất hợp lý nh: giới tính, dân tộc, màu da, tuổi tác để
hạ thấp tiền lơng của ngời lao động.
Thực hiện tốt nguyên tắc này có tác dụng kích thích ngời lao động hăng
hái tham gia sản xuất góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất.
3.2 Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lơng bình quân
Đây là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức, vì có nh vậy mới tạo cơ sở
cho giảm giá thành, hạ giá bán và tăng tích luỹ. Có nhiều yếu tố tác động đến
mối quan hệ này, cho phép thực hiện đợc nguyên tắc này:
10
- Tiền lơng bình quân tăng lên phụ thuộc vào những yếu tố chủ quan do
nâng cao năng suất lao động (nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt thời gian
lao động). Năng suất lao dộng tăng không phải chỉ do những yếu tố trên mà
còn phụ thuộc trực tiếp vào những yếu tố khách quan khác ( áp dụng kỹ thuật
mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên ). Nh vậy, tốc độ tăng năng suất
lao động rõ ràng có khả năng khách quan lớn hơn tốc độ của tiền lơng bình
quân.
- Không những thế khi xem xét các mối quan hệ giữa tốc độ tăng năng
suất lao động với tiền lơng thực tế, giữa tích luỹ và tiêu dùng trong thu nhập
quốc dân ta thấy chúng cũng có mối quan hệ trực tiếp với tốc độ phát triển của
khu vực i (sản xuất ra t liệu sản xuất) và khu vực II (sản xuất vật phẩm tiêu
dùng).
Do nhu cầu tái sản xuất đòi hỏi khu vực I phải tăng nhanh hơn khu vực
II về tốc độ tăng của tổng sản phẩm xã hội tính bình quân theo đầu ngời lao
động (cơ sở của tiền lơng thực tế). Ngoài ra sản phẩm của khu vực II không
phải đem toàn bộ để nâng cao tiền lơng thực tế, mà còn phải trích lại một phần
để tích luỹ. Do đó muốn đảm bảo phần còn lại cho tiêu dùng của công nhân
viên chức không ngừng tăng lên cũng yêu cầu năng suất lao động xã hội phải
tăng nhanh hơn.
Tóm lại trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng nh nội bộ công ty, xí
nghiệp muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ thì không còn con đờng nào
khác là làm cho năng suất lao động tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền lơng bình
quân. Vi phạm nguyên tắc trên sẽ tạo ra những khó khăn trong việc phát triển
sản xuất và nâng cao đời sống ngời lao động.
Tuy nhiên trong một giai đoạn đặc biệt ngắn, nguyên tắc này cần phải
đợc tôn trọng ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Chỉ khi tốc độ tăng năng suất lao dộng
tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền lơng bình quân thì của cải xã hội mới đợc tích
luỹ tạo điều kiện cho nền sản xuất mở rộng và giúp xã hội không ngừng phát
triển.
11
3.3 Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lơng giữa những ngời lao
động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Mỗi nền kinh tế có một điều kiện sản xuất khác nhau, phân phối theo lao
động khác nhau.Do vậy nó ảnh hởng trực tiếp đến độ cống hiến và hao phí sức
lao động của từng ngời. Bởi vậy cần phải xây dựng chế độ tiền lơng hợp lý
giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó tạo điều kiện thu hút và điều
phối lao động vào những ngành kinh tế có vị trí trọng yếu và những vùng có
tiềm năng sản xuất lớn đồng thời nó phải kích thích con ngời trong quá trình
sản xuất đáp ứng nhu cầu của quy luật kinh tế, quy luật phân phối theo lao
động, quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối trong nền kinh tế quốc dân.
Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung lần thứ 6 chỉ rõ:" Lao động có kỹ
thuật, lao động ở những ngành nghề nặng nhọc, độc hại, ở những vùng có điều
kiện khó khăn cần đợc đãi ngộ thích đáng". Tiền lơng bình quân giã các ngành
trong nền kinh tế quốc dân khác nhau thông thờng do một số nhân tố sau
quyết định:
- Trình độ lành nghề bình quân của ngời lao động trong mỗi ngành.
- Điều kiện lao động khác nhau.
- ý nghĩa kinh tế mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên do điều kiện sinh hoạt, mức sống ở các khu vực khác nhau của
đất nớc ta là khác nhau. Điều kiện sinh hoạt ở miền núi khó khăn hơn đồng
bằng, mức sống thành phố cao hơn nông thôn, vì vậy khi tính lơng thì ảnh h-
ởng của các yếu tố này cũng phải đợc xét đến.
3.4 Tiền lơng phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động
Xã hội muốn tồn tại thì con ngời phải thờng xuyên tiêu dùng của cải vật
chất. Để có đợc của cải vật chất thì nền sản xuất hàng hoá phải tiến hành liên
tục, do đó sức lao động yếu tố cơ bản cấu thành quản trị sản xuất cung cầu
luôn đợc sử dụng và tái tạo.
Thực hiện nguyên tắc này, tiền lơng phải là giá cả sức lao động phù hợp
với quan hệ cung cầu lao động và pháp luật của nhà nớc. Thực hiện việc trả l-
12
ơng theo việc gắn với giá trị mới sáng tạo ra. Đòng thời phản ánh đúng kết quả
lao động và hiệu quả kinh tế. Mức lơng tối thiểu phải là nền tang chính sách
tiền lơng và có cơ cấu hợp lý về sinh học, xã hội học, bảo hiểm, tuổi già và
nuôi con.
Tiền lơng của ngời lao động là để tái sản xuất sức lao động tức là đảm
bảo cho đời sống của bản thân họ và gia đình của ngời lao động. Điều quan
trọng là t liệu sinh hoạt mà ngời lao động nhận khi họ chuyển hoá số tiền nhận
đợc qua các khâu phân phối lu thông trực tiếp là giá cả của phơng thức phục
vụ thị trờng.
4. Quĩ tiền lơng và cơ cấu quỹ tiền lơng
Tiền lơng hay thu nhập đều đợc lấy từ quỹ phân phối của doanh nghiệp.
Quỹ phân phối theo số lợng và chất lợng lao động do kết quả sản xuất kinh
doanh mang lại, đó là bộ phận chi phí quan trọng của doanh nghiệp, biểu hiện
bằng tiền là quỹ tiền lơng.
Vậy quĩ tiền lơng là tổng số tiền doanh nghiệp phải trả cho cán bộ công
nhân viên trong danh sách do doanh nghiệp quản lý theo số lợng và chất lợng
lao động mà mỗi ngời đã cống hiến. Quỹ tiền lơng của doanh nghiệp đợc hình
thành từ nhiều nguồn khác nhau, có thể do cấp phát thông qua ngân sách nhà
nớc, dựa trên hệ thống bảng lơng do chính phủ qui định, hoặc theo nguyên tắc
tự cân đối, tự trang trải, lấy thu bù chi, đảm bảo trả lơng đầy đủ cho ngời lao
động, đồng thời có thêm tích luỹ mở rộng sản xuất.
Thành phần quỹ tiền lơng của doanh nghiệp gồm các khoản chủ yếu
sau:
- Tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian thực tế ( theo thời gian
và theo sản phẩm).
- Tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian ngừng việc, nghỉ phép
hoặc đi học.
- Các khoản tiền thởng trong sản xuất, các khoản phụ cấp thờng xuyên (
phụ cấp khu vực, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại, phụ cấp làm đêm )
13
- Có nhiều cách phân loại cơ cấu quỹ tiền lơng nhng hiện nay quỹ tiền l-
ơng chủ yếu đợc phân loại theo hai cách sau đây:
Cơ cấu quỹ tiền lơng theo đối tợng trả bao gồm:
+ Quỹ tiền lơng sản xuất
+ Quỹ tiền lơng quản lý
+ Quỹ tiền lơng phục vụ và phụ trợ
Cơ cấu quỹ tiền lơng của ngời lao động theo tính chất của sản phẩm
hoàn thành công việc, bao gồm:
+ Quỹ tiền lơng sản phẩm mới
+ Quỹ tiền lơng sản phẩm truyền thống
+ Quỹ tiền lơng làm thêm giờ
+ Quỹ tiền lơng bổ sung
Theo quy định hiện nay của nhà nớc, doanh nghiệp có quyền tự chủ xây
dựng quỹ tiền lơng nhng phải đợc cấp trên trực tiếp duyệt và giao đơn giá tiền
lơng cho đơn vị. Doanh nghiệp có quyền tự chọn hình thức trả lơng trên cơ sở
quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động. Nhà nớc cho phép các doanh
nghiệp trả lơng cho ngời lao động thấp hơn lơng tối thiểu nhng cũng có chính
sách điều tiết đối với những ngời có thu nhập cao, nhà nớc xây dựng và ban
hành các thang lơng, bảng lơng.
- Thang lơng: Là bảng xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lơng giữa những
ngời công nhân cùng nghề hoặc cùng nhóm nghề giống nhau theo trình độ cấp
bậc của họ. Mỗi thang lơng gồm một số bậc lơng và các hệ số phù hợp với các
bậc lơng đó.
- Bảng lơng: Về cơ bản giống nh thang lơng nhng có khác ở chỗ mức
độ phức tạp của công việc và mức độ phụ thuộc vào công suất thiết kế và qui
mô của doanh nghiệp.
- Mức lơng: Là số lợng tiền để trả công cho ngời lao động trong một
đơn vị thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng) phù hợp với các bậc trong thang lơng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét